tang than bo de green6
Di nhu mot dong song

CON ĐƯỜNG MÙA XUÂN

Đi t́m Thầy

Mùa Hè năm 1989, vợ chồng tôi ghé qua Pháp thăm Thầy, đường về Làng Hồng xa lạ nhưng cũng mang nhiều thú vị. Sau một thời gian chuyển tiếp, tàu dừng lại ở trạm cuối cùng. Xuống xe lửa ở St. Foy La Grande, chúng tôi được Chị Chân Đức (Alabel Laity) ra đón; trong Làng bây giờ đang thời gian làm biếng nên chỉ c̣n ḿnh Chị. Chúng tôi chào hỏi thân thiện như đă quen nhau tự thuở nào và cùng lên xe về Làng. Đường hai bên đẹp và thanh tịnh, những cánh đồng với những cuộn cỏ khô lăn dài như một dấu tích của đồng quê, mùi thơm của cây cỏ bên đường và mùi nắng cháy làm cho chúng tôi thấy thích thú, lâu lắm rồi chúng tôi mới thở được mùi hương của đồng nội.

Tôi sinh ra ở Huế, được xông ướp ít nhiều hương trầm của xứ nầy. Năm 13 tuổi đi sinh hoạt gia đ́nh Phật tử An Lăng, cũng từ đó tôi có cơ hội gần gũi và học hỏi với quư thầy cô ở Huế; cảm thấy đạo Phật đối với ḿnh như hơi thở, như mặt trời, thật khó phân ly.

Hôm tôi về thư viện Từ Đàm thăm thầy Từ Phong, trong lúc đợi Thầy, tôi vô t́nh đọc được bài vấn đề giải thoáttrong tạp chí Hải Triều Âm. Bài viết làm tâm tôi chấn động, đưa mắt t́m tác giả, tôi thấy có hai chữ vỏn vẹn ở cuối trang Nhất Hạnh.

Tôi hỏi thầy Từ Phong về tác giả bài viết. Thầy mỉm cười thật vui và với phong cách phóng khoáng, Thầy vừa trả lời vừa kể chuyện: Thầy Nhất Hạnh đang ở Pháp. Thầy có khuôn mặt xấu kỳ lạ, nhưng Thầy lại thông minh tuyệt đỉnh. Trước đây Thầy tu ở Từ Hiếu, lúc c̣n làm chú tiểu, Thầy phải đi giữ ḅ cho chùa. Một hôm quư Thầy lớn có Phật sự phải ra ngoài, không ai tụng kinh hôm đó. Thầy Nhất Hạnh xin lên chùa tụng thế và Thầy đă làm mọi người kinh ngạc khi có thể tụng làu làu cả cuốn Thủ Lăng Nghiêm mà không cần nh́n Kinh bản. Từ đó Sư Tổ không cho Thầy giữ ḅ nữa, và được nuôi dưỡng trong môi trường học tập…”. Sau nầy khi hiểu rơ hơn, tôi biết câu chuyện trên chỉ đúng một phần. Thầy có khuôn mặt tinh anh của một thiền sư với hai mắt sáng, có lẽ khuôn mặt xấu kỳ lạ mà thầy Từ Phong đưa vào là để làm nổi bật sự thông minh chăng? Tôi vui v́ biết tác giả bài viết vẫn c̣n đó, nhưng buồn v́ không có đủ nhân duyên để tiếp cận mà học hỏi.

Chúng tôi định cư tại Canada vào năm 1982, thành phố Sudbury mà chúng tôi đến không có một sinh hoạt Phật giáo nào; mùa đông ở đây dài lê thê với tuyết trắng phủ đầy. Tôi được ôn Măn Giác ở Mỹ mách cho nên đánh liều viết thư về Làng Hồng, trước mạo muội thăm hỏi sức khỏe Thầy, sau thỉnh một số sách để tự tu học. Niềm vui khôn xiết khi tôi nhận được một số sách và lá thư sách tấn từ Sư cô Chân Không: 

15 Jan, 1985

Tâm Huy em,

Đời sống ở hải ngoại khó khăn, chị lạy Phật cho em thấy được niềm an lạc. Chị rất mừng thấy em biết sử dụng những lời dạy trong sách thầy để lấy lại quân b́nh nơi xứ lạ. Mùa Thu 1985 thầy sẽ sang Canada dạy 1 khoá tu học 7 ngày ở vùng Montréal hay đâu đó chị chưa rơ v́ người tổ chức c̣n đang t́m chỗ. Chị biết chỗ em ở khá xa nên không dám rủ em, chứ chị cũng thích gặp em v́ các anh chị ban tổ chức có mời chị sang phụ với họ tổ chức.

Tháng Mười chắc em đi học mất rồi. Bây giờ chị trả lời những câu hỏi của em nghe. Chị không phải là người Huế và có thương Huế nhiều v́ đă đi dạy ở đó 3 năm. Tuy rằng mỗi năm chị ‘bay’ ra dạy có 4 lần và đi chấm thi 1 lần, vị chi là 5 lần, mỗi lần 1 tuần lễ nhưng chị sống thật đậm những ngày ở đó. Chị dạy Khoa Học ở Đại Học Khoa Học năm 1964, 1965 và 1966, tuy trường có cho pḥng rất sang để ở nhưng chị chỉ ở các chùa trên núi như Từ Hiếu … nên vui lắm. Được nghe tiếng đọc kinh làm ràm mỗi sáng của các chú điệu, được hơ tay trên bếp lửa mỗi sáng lạnh, được đi thăm các bệnh viện, ở đêm với 1 bà cụ nghèo bệnh và nghe kể chuyện về sự hy sinh của dân Huế cho người nghèo khổ lụt lội v.v... đă từng đi ăn bánh bèo Vĩ Dạ, ăn cơm chay các chùa, ăn mắm cà chùa Linh Quang, trái bùi chùa Từ Hiếu, ăn bắp ngọt chùa Cồn Hến, uống trà chùa Ba La, hầu các sư bà đài các chùa Diệu Nghiêm, đi cứu trợ đồng bào nạn lụt với qúy sư bà sư cô …

Bây giờ chị hưu trí non đi làm chuyện không công cho thiên hạ là lo cho trẻ em đói tại các nước thứ ba và tại quê nhà, em có biết gia đ́nh nào rất rất đói gạo th́ cho chị biết. Hiện giờ chị cư trú tại Làng Hồng, phụ với anh Cả Làng đủ thứ việc. Thầy N.H. th́ ở sơn cốc cách làng 100 cây số, thầy cũng trồng trọt như ở Làng nhưng đủ thầy ăn thôi, c̣n tụi nầy trồng bán để tự túc và xây dựng thêm làng. Chị thấy em đọc sách thầy kỹ nên lại gửi cho em thêm vài cuốn nữa, khi nào có tiền em trả cũng được. Nếu đang kẹt tài chánh th́ cũng đừng ngượng, cứ để đấy, khi nào có th́ trả cũng không sao. Rất tiếc em ở xa quá chứ nếu em sang đây được 1 mùa hè 1 tháng th́ sẽ gặp nhiều bạn đồng tâm, có thể hợp tác làm việc lớn lợi lạc cho ḿnh và dân tộc lắm đó em.

Thương em
Chị Chơn Không


Sống bên Thầy

Xe vừa đến làng, chúng tôi được anh bác sĩ Hoàng đưa về chỗ ở; chúng tôi biết lúc nầy không có Thầy ở đây, nên thong thả sinh hoạt với hương đồng cỏ dại, không khí ở đây trong lành và cuộc sống thanh b́nh êm ả. Sau hai ngày ở chơi, lúc đang nghỉ trưa, quư Sư Cô báo Thầy đă về và chúng tôi sẽ được gặp Thầy tại quán Ô Mai. Đó là lần đầu tiên được ngồi bên Thầy, được sinh hoạt cùng quư sư cô Chân Không, sư cô Chân Vị, sư cô Huệ Hảo, sư cô Thanh Lương và anh bác sĩ Hoàng, bây giờ là thầy Pháp Lữ, đă ghi lại những kỷ niệm khó quên. Tôi c̣n nhớ lời nói của sư cô Chân Không sau khi nghe chúng tôi giới thiệu về ḿnh: à th́ ra em là Tâm Huy ở Canada, đọc thư em chị cứ nghĩ em là một tu sĩ trẻ hai mươi mấy tuổi, không ngờ em đă có gia đ́nh. Những ngày kế tiếp là những ngày hạnh phúc, chúng tôi được ăn cơm chung với Thầy, quư Sư Cô và anh bác sĩ Hoàng. Một hôm sau giờ cơm chiều Thầy bảo: “ngày mai quư sư cô làm món ‘xuân quyện’ đăi khách nhé”. Món ‘Xuân Quyện” là món gỏi cuốn, cuốn tất cả những ngọn rau thơm của mùa Xuân, rất ngon! 

Một hôm khác, sau giờ trưa, Thầy nh́n tôi nói: “con có muốn th́ vào pḥng chơi với Thầy” rồi nh́n qua Diệu Liên (bà xă tôi) Thầy nói: “con qua văn pḥng từ thiện chơi với sư cô Chân Không cho vui”. Vậy là trưa hôm đó hai vợ chồng tôi mỗi người đi mỗi ngả.

Diệu Liên kể lại văn pḥng của sư cô Chơn Không cất giữ vài chục ngàn hồ sơ từ thiện như học bổng giúp học sinh, thuốc Tây giúp tu sĩ và bệnh nhân nghèo tại Việt Nam …. các h́nh ảnh, sách báo về hoạt động của Đoàn Thanh Niên Phụng Sự Xă Hội Diệu Liên rất cảm kích công việc nầy nên lấy trong túi ra 200 Usd, cúng dường quỹ từ thiện của Sư Cô. Nhưng Sư Cô không nhận và dạy: em đóng góp 200$ th́ chỉ có 200$ giúp người nghèo, nhưng nếu em đem tư tưởng nầy, việc làm nầy về thực hiện tại thành phố em ở, th́ 200$ của em sẽ trở thành 2,000$ hay 20,000$. Chị đă lớn tuổi, có nhiều lúc bị bệnh, chị sợ chết không ai lo cho trẻ em đói và đồng bào nghèo tại Việt Nam. Thầy dạy chị là không cần sợ chết mà cần huấn luyện người trẻ làm các công việc chị đang làm”.

Diệu Liên nghe Sư Cô tŕnh bày, trong ḷng thầm cười v́ bản thân không biết ǵ về từ thiện. Những năm tháng ở Huế, tôi thường phụ giúp những việc từ thiện với bác Siêu, thầy Từ Phong, sư cô Minh Tú. Có lúc cùng các anh chị Gia Đ́nh Phật Tử đi bán bánh ḿ đêm để gây quỹ từ thiện, nên khi nghe Diệu Liên nói, tôi khuyến khích Diệu Liên nên làm và sẵn sàng giới thiệu những nơi tôi biết. Vậy là chúng tôi bắt đầu liên lạc với thầy Hải Ấn, sư cô Trí Hải, sư cô Như Minh, sư cô Minh Tú, bác Siêuv.v để làm những công tác từ thiện đầu tiên tại Việt Nam.

Đi đứng nằm ngồi trong chánh niệm

Căn pḥng của Thầy thật đơn giản, tấm ván được kê bằng những viên gạch làm chỗ ngủ, chiếc bàn để làm việc, và một kệ sách nhỏ.  Thầy đi thẳng đến bàn giấy tờ, tôi ngồi trên sàn nhà đọc sách. Thầy tṛ không nói với nhau lời nào. Ở bên Thầy tôi cảm nhận được năng lượng trầm tĩnh và an ổn rất lớn, năng lượng nầy làm cho ḿnh thấy ấm áp, không có những lời xă giao thăm hỏi nhưng lại thấy gần gũi và đầy hạnh phúc. Ngôn ngữ lúc nầy thật thừa thăi và nếu có, chỉ là một trở ngại lớn phá tan đi cái không gian tĩnh mịch đầy thiền vị nầy. Xế chiều, Thầy đưa chúng tôi vào rừng, Thầy dạy thiền ôm cây và thở với rừng cây. Ôm cây để thấy ḿnh và cây cũng như ḿnh và vũ trụ là một, ôm để biết ơn, để nh́n thật sâu về thực tướng của tương tức. Ngồi bên ngoài lan can thất của Thầy, uống trà, thả hai chân xuống đu đưa như ngồi bên bờ sông vọc nước. Thầy kể rằng khi Thầy đi dạy xa th́ ở nhà các thiền sinh xây tặng Thầy cái thất này, thất này sang và rộng quá, Thầy sẽ ngăn ra cho thuê bớt. Nói xong Thầy tủm tỉm cười hiền. Lại thêm một chiều về, sau bữa cơm, chúng tôi ngồi lại với nhau dưới khóm trúc, uống trà, hát những bản thiền ca với hoàng hôn ở xóm Hạ, trời xế chiều mát và không gian thật rộng, tiếng hát lời ca vang thật xa.

Chúng tôi có những ngày sống hạnh phúc bên Thầy, học đi thiền hành chánh niệm, đem tâm về với hơi thở và bước chân để tâm có được sự tĩnh lặng, ngồi thở thật yên bên Thầy và hưởng năng lượng an lạc của Thầy, ăn cơm im lặng để thấy ḿnh may mắn, thấy sự quư giá của thức ăn và sự liên hệ mật thiết của ḿnh và vũ trụ. Sống bên Thầy chỉ một tuần lễ, chúng tôi cảm được niềm an lạc của tự thân, cái học Phật ngày xưa hôm nay mới thấy được bản chất chính thống của nó, ngôn từ để truyền đạt không c̣n chỗ đứng trong tôi. Tôi hiểu thêm bản chất của sự tĩnh lặng, tôi bắt đầu có niềm tin lớn về con đường mà ḿnh đă tận tụy đi theo trong những năm tháng qua.

Mắt Thương Nh́n Cuộc Đời
Diệu Liên viết

 
Trở lại Canada, tôi (Diệu Liên) bắt đầu gom góp tịnh tài từ gia đ́nh và các thân hữu gửi về Việt Nam giúp người khốn khó. Số tiền rất ít, có lúc được vài chục đồng, vài trăm đồng. Những năm sau đó th́ số tịnh tài quyên góp cũng lên được vài ngàn đồng, rồi cùng quư bác trong Tăng thân ở Toronto tổ chức cơm chay gây quỹ thu về được số tiền khá lớn.

Năm 1994, chúng tôi thực hiện 1 chuyến về Việt Nam, sáu tháng học hỏi phương pháp làm công tác từ thiện, sáu tháng c̣n lại về Làng Hồng thăm Thầy và tu học. Khi trở lại Canada, chồng tôi đă cùng quư bác và các anh chị tích cực xây dựng tăng thân cho người Việt và người nói tiếng Anh. C̣n tôi đam mê công việc từ thiện, nên năm 2000 tôi xin nghỉ việc làm để dành toàn thời gian xây dựng một chương tŕnh từ thiện lấy tên Mắt Thương Nh́n Cuộc Đời (MTNCĐ - Eyes of Compassion Relief Organization), 

Thầy vẫn c̣n măi

Theo dấu chân Thầy, tôi trải ḷng ḿnh bằng con đường từ thiện. Tôi nghĩ đạo Bụt là đạo dấn thân nên ở trên b́nh diện nào ḿnh cũng thể hiện được tinh thần nầy. Tôi thấy làm từ thiện th́ phải tu thật vững chăi, và phải thực tập để phát khởi ḷng từ bi. Nhờ công tác từ thiện, tôi có cơ hội đi nhiều nơi trên quê hương thân yêu, đến gần các mảnh đời bất hạnh, thấy rơ nỗi khổ niềm đau của kiếp người. Những năm đầu, tiếp xúc những năng lượng bế tắc, tuyệt vọng, đau đớn của bà con nghèo nhiều lần làm tôi muốn ngă quỵ. Trong trường hợp đó, để gượng đứng lên, tôi phải trở về bám lấy hơi thở, tŕ niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi cũng quán tưởng bao nỗi thăng trầm, bao điều thảm khốc trong cuộc đời phụng sự của Thầy, của Ngài Hư Vân quán chiếu tâm dũng mạnh phi thường của vua Trần Nhân Tông, của Bụt, đă vượt thắng thử thách, phá bỏ ngă chấp, và thấy rằng những ǵ ḿnh đangnếm phảicũng chỉ là một trở ngại nhỏ để nuôi dưỡng và làm thêm vững mạnh con đường.

Mỗi năm tôi sống một thời gian ở Việt Nam, làm việc với thiện nguyện viên, để hiểu và học hỏi kinh nghiệm của nhau. Chúng tôi thiết lập t́nh “huynh đệ” dễ dàng v́ anh em đều là thiện nguyện viên, trải ḷng với đời, muốn làm một chút ǵ đó cho những người khốn khổ.

Tiếp xúc và thường xuyên thực tập hơi thở chánh niệm giúp tôi có nhiều chuyển hóa. Không những vượt qua sự mất thăng bằng của tâm, mà c̣n phát sinh ra một năng lượng vững chăi, hạnh phúc, rất ư ngọt ngào và ấm áp, khó diễn tả bằng lời. Khả năng tiếp xúc với năng lượng tích cực trong thế giới chao đảo là khả năng có thật, đúng như câu bút pháp của Thầy: “liệng sợi tơ sen trói mănh hổ”, hơi thở tuy nhẹ và mỏng manh mà có khả năng chuyển hoá khổ đau thành an lạc trong từng giây từng phút.

Những lúc chúng tôi tiếp cận và chăm sóc đồng bào, tự thân cảm nhận như chúng tôi là hiện thân của Thầy, là cánh tay của Thầy đang nâng niu và hiến tặng. T́nh thương của Thầy, sư cô Chơn Không rất lớn, khi nào cũng trải khắp mọi nơi. Tôi thấy trong tôi có Thầy, sự sống, năng lượng yêu thương và từ bi của Thầy măi măi c̣n đó.

Những ngày đầu Xuân 2012,
Chân Bồ Đề,
Chân Thường Hỷ
 

© 2010 Bodhi Community of Mindfulness links: | Magnolia Village Monastery | Plum Village | Làng Mai | Deer Park Monastery | Blue Cliff Monastery | European Institute of Applied Buddhism | Plum Village Foundation Hong Kong | Thai Plum Village | Thư Viện Thích Nhất Hạnh | Wake Up | In the Footstep of the BuddhaMindfulness Bell | Parallax Press | Lá Bối | International Sangha Directories | Village Des Pruniers