Nếu tôi đem cái kinh nghiệm đó ra giải bày cho bất cứ ai, thì họ chỉ mĩm cười, hay tỏ vẽ có gì đâu đáng nói. Bởi họ không thể biết được cái hương vị tôi được nếm. Nhiều người biết tôi đang thực tập thiền họ hỏi cùng một câu giống nhau: “Anh thấy gì khi ngồi thiền?” Và lúc nào tôi cũng chỉ trả lời được một câu: “Tôi thấy tôi.” Tôi không biết trả lời gì khác hơn bởi vì tôi kinh nghiệm được là tôi thấy tôi rất rõ khi ngồi thiền hay khi trở về với hơi thở. Nhiều người thất vọng với câu trả lời đơn giản đó. Có người nghĩ tôi không muốn trả lời cho họ nhiều hơn, hoặc nghĩ tôi “chưa đạt đạo”. Tại sao người ta hay thích những cái cầu kỳ để tìm cách lý giãi như lý giãi một đề tài trong khi thực tế vấn đề đơn giản. Nếu tôi lặp lại câu của các vị tổ “bản lai diện mục” , “nhất tâm nhất Phật”v.v và v.v thì họ sẽ trố mắt ra suy nghĩ và phục tôi lắm. Nếu tôi cứ đem kinh Kim Cang, Hoa Nghiêm tuôn ra bất tận thì nhiều người ngồi nghe thích thú. Nhưng khi tôi đề nghị trước khi ăn cơm mình để ra ít phút nắm lấy hơi thở nhìn vào thức ăn để nhận diện và quán “Thức ăn này là tặng phẩm của đất trời, là công phu lao tác…”thì có người làm theo nhưng không thích mấy. Tôi nói với họ “lời quán này là một trời Hoa Nghiêm, trùng trùng duyên khởi”. Có người giật mình, thì ra mình đang sống giữa thế giới của Hoa Nghiêm mà không nhận ra, cứ đi tìm ở nơi khác. Chỉ cần một hơi thở nhận ra được cái mầu nhiệm.  Còn nhiều vô số những cái “nho nhỏ” như hơi thở giúp mình đi vào thế giói kinh điển và áp dụng được kinh điển vào đời sống mà mình không thấy bởi vì mình không nương hơi thở về với thực tại.

Tôi hay chia sẻ với các bạn đồng tu rằng hãy thực tập (tu) những cái nho nhỏ hằng ngày mình hay làm: đi ra đi vào, mở cửa, ăn cơm, đi cầu… Những công việc đó nếu mình làm với hơi thở chánh niệm thì mình sẽ thấy được những cái “tinh vi hơn”. Không có một cử động nào là đơn thuần, giản dị. Tất cả toàn thể thân hình mình cùng làm việc nhịp nhàn cùng một lúc trong một cử động đơn giản. Tôi đi không phải chỉ có đôi chân bước mà toàn thân làm việc; bắp thịt cử đống, thần kinh ra lệnh, máu tuần hoàn để duy trì năng lượng nuôi dưởng, ý chí muốn đi và nhiều yếu tố khác trùng trùng cùng làm việc trong từng sát na hiện tại. Quán sát từng bước đi mình khám phá một điều: đi là hành động vừa ý thức vừa vô ý thức. Ý thức là mình muốn đi vô thức là phản xạ của cơ thể giữ thăng bằng cho khỏi ngã. Cơ thể ở thế thăng bằng chân không thể bước tới được. Một bước chân bước tới cơ thể phải nghiêng qua một bên làm toàn thân mất thăng bằng và để giữ lại thăng bằng chân kia phải bước tới. Cứ thế hai chân tự động bước nhịp nhàn, mình không cần điều khiển hai chân. Đi là một chuỗi dài hành động làm mất thăng bằng và giữ thăng bằng. Đi có chánh niệm mình khám phá ra cái lý Duyên khởi: cái này có (sự mất thăng bằng của cơ thể) vì cái kia có (sự giữ thăng bằng cơ thể). Và cái lý nhân quả. Nhân (làm cho thân mất thăng bằng) Quả (bước tới cho thân được thăng bằng). Cuối cùng mình tìm không ra ai đang bước đi? Và bước đi hôm nay của tôi đã có từ ngàn xưa nơi tổ tiên, và còn tiếp nối bởi con cháu (không sanh không diệt). Điều này không phải do học thuộc những gì thầy mình nói mà do chính mình cảm được.

Tụng Bát Nhã Tâm Kinh mình tụng và hiểu cái vượt thoát của Không. Nhưng nếu đi trong chánh niệm thì cảm được cái Chân Không. Từ hiểu đến cảm là đoạn đường cách nhau khá xa. Cầm ly nước cũng thấy được vũ trụ. Uống một hớp nước cũng thấy được cơ mang yếu tố vận hành của cơ thể để cho hớp nước đi vào cơ thể và tác dụng vào cơ thể. Mà nếu đem những yếu tố đó ra kể thì cần nhiều thời gian, đem viết ra thì cần nhiều trang giấy. Nhưng với chánh niệm khi uống hớp nước thì chỉ trong một khoảnh khắc hiện tại cũng cảm được tất cả. Chỉ cần một hơi thở nhẹ bao nhiêu mầu nhiệm bày ra.

Cảm là hiểu vấn đề bằng trái tim chứ không phải bằng lý trí. Hiểu bằng lý trí của bộ óc là thường bị ý niệm và lý giãi chi phối. Lý giãi một hồi làm mình mệt có khi lạc đề. Còn hiểu bằng trái tim không cần lý giãi, chỉ mỗi môt mình mình cảm không thể đem lý giãi cho ai hoàn toàn theo ý của mình. Tụng Tâm kinh phải làm sao cảm được Tâm Kinh. Có ai hỏi mùi vị của trái sầu riêng. Thơm thơm thum thủm, ngọt ngọt bùi bùi…cả ngày cứ tả thì người nghe cũng chỉ có chút ý niệm về sầu riêng.  Cách hay nhất là mời người hỏi nếm một múi. Nhưng vấn đề không đơn giản nếu người hỏi “anh thấy gì trong khi ngồi thiền?” Mời người ta cùng ngồi thì không dễ. Mời người ta ngồi xuống thở với mình ít phút cũng khó. Hãy sống tự nhiên (be yourself). Đó là cách tôi hay trả lời. Như vậy giữa người tập thiền và người không tập thiền có khác gì đâu. Thật ra có khác. Bởi vì mình không thực tập quay về với chính mình cho nên không thấy khác. Trong đời sống hàng ngày mỗi người đều mang nhiều mặt nạ khác nhau. Vì hoàn cảnh vì công việc vì lợi vì tâm lý và ngay cả vì mình là người đang tu học mình cũng phải  đeo mặt nạ. Có khi mình không muốn nhưng có khi do thói quen. Đi với Bụt mặc áo ca sa đi với ma mặt áo giấy. Lột cho được mặt nạ không phải dễ, phải thực tập nhiều. Khi đã thoát ly được các mặt nạ rồi mình chính là mình, mình thực sự là con người Vô Sự của tổ Lâm Tế. Không còn có gì để ràng buột mình phải đeo cái mặt nạ. Cái mặt nạ mình đeo có khi mình quên vì nó là thói quen. Những lúc biết mình đang đeo mặt nạ chính là lúc mình thực sự về với chính mình. Kéo dài sự nhận diện càng lâu càng tốt. Với người thân thương trong gia đình đừng tưởng mình không đeo mặt nạ. Mình giận mà nói không giận, trách móc mà nói không trách móc. Chỉ cần đi lửng thửng vài bước thở vào thở ra. Hoặc vào phòng ngồi thở vài ba phút là cảm thấy nhẹ ngay, và tất cả được xí xóa.
Theo tôi miên mật là mình kéo dài giây phút chánh niệm lâu chừng nào tốt chừng đó. Bất cứ lúc nào, nơi nào trong ngày cũng thực tập được. Đâu có phải cần hạ thủ công phu ngồi bất động từ giờ này qua giờ khác. Thời gian mới thực tập ai cũng vướng vào thói quen chung là ngồi cho lâu. Đo lường công phu bằng thời gian ngồi kiết già. Gặp nhau chỉ hỏi một câu;”Anh ngồi được bao lâu trong một thời” và sẽ được định công bằng độ dài thời gian. Tâm đang bất an, nhiều lo lắng, nhiều dự tính thì không nên ngồi thiền mà nên quay về hơi thở, đi thiền hành. Lúc đó mà nghĩ rằng ngồi thiền để cho nhẹ bớt sự đè nén trong não thì không giúp được gì mà mình thêm trạo cử, ngồi không yên được. Hơi thở có chánh niệm là thiền, thiền hành là thiền, nhận diện hiện tại là thiền. Tu mà không tu. Khi tất cả các mặt nạ đều biến mất thì con người thật của tổ Lâm Tế bày ra. Chỉ một hơi thở có ý thức, trong một thoáng ngắn ngủi mình đi từ con người giả (với mặt nạ) đến con người thật. Nhưng thực ra không đi đâu hết, không tìm đâu hết.

Thầy Tăng Hội tả về cái tâm: “trong một cái búng tay tâm có chin mươi bốn ngàn lần chuyển niệm, tâm như tấm gương đầy bụi bám vào. Nắm lấy hơi thở, đếm hơi thở, theo dõi hơi thở tâm dần dần sáng ra như một tấm gương được phủi bụi. Nếu đem tấm gương đó đặt dưới ánh mặt trời tấm gương sẽ phản chiếu đi khắp nơi và không cõi nào mà không hiện rõ.”

Thiện Tài đệ tử của ngài Văn Thù. Sau nhiều năm làm đệ tử hầu hạ thầy mình cảm thấy không bằng lòng. Xin thầy cho đi tìm đạo. Thầy vui lòng cho đi. Đi đến  nước nào cũng gặp được một vị đại trí thức, từ bi dạy cho những giáo lý uyên nguyên, nhìn được thâm sâu vận hành vũ trụ, hiểu được tiếng của muôn chim cầm thú, thâm hiểu cặn kẻ tam tạng kinh điển…Học được ở 52 vị đại trí thức, đạt đến 52 pháp môn vi diệu. Học xong vị nào cũng bảo Thiện Tài “pháp môn của ta chưa phải là rốt ráo. Con nên đến thầy kia..” Thiện Tài vâng lời làm theo. Đến vị đại trí thức thứ 52, ngài cũng cho Thiện Tài biết giáo pháp của ngài cũng chưa rốt ráo. Thiện Tài buồn bã, thất vọng quay về nhà với Thầy mình. Ngài Văn Thù biết trước, biết từ khi trò mình muốn ra đi, nên ra tận cửa đón trò mình với nụ cười và cái nhìn từ bi. Nhìn trò Thầy bảo: Thở đi con. Thiện Tài bừng tỉnh như chưa bao giờ tỉnh.
Chuyện như hoang đường nhưng có thật, bởi vì Thiện Tài và Văn Thù đang có trong ta.

Nguyễn Thế Hà
Misisssauga

Hãy Về Đây Với Tôi

Hãy về đây với tôi,tôi ôm không hết
Con đường đất mềm, hàng cây tiếp nối.
Bước chân thảnh thơi, gió mát hiu hiu.
Chim hót trên cành cây bên sườn đồi
Giọt nắng lung linh đọng trong giọt sương.

Hãy về đây với tôi,tôi thở không hết
Không khí trong thơm, buổi sáng thủy tinh.
Im lặng như vang tiếng của lặng im
Tuyệt diệu thay không gian mênh mông.

Hãy về đây với tôi,tôi đếm không hết
Cánh bướm như hoa ngập lối chiều nay.
Múa khúc chân thường hoa cũng là bướm
Một kiếp phù du nhưng hiện hữu tuyệt vời.

Hãy về đây với tôi,tôi chở không hết
Ánh sao đêm nay trong sáng lạ thường.
Lung linh trên trời thăm thẳm kim cương
Thế giới mênh mông vũ trụ vơi đầy.

Hãy về đây với tôi,tôi uống không hết
Giòng sữa Ngân Hà bao năm tháng lãng quên
Hãy nhớ về đây đừng mang theo chi hết
Một tâm không và một thân không.

Hãy về đây với tôi,tôi kể cho nghe
Chuyện ngày xưa hai mươi lăm thế kỷ trước
Đất trời rung chuyển đóa Linh Thoại nở
Cho nhân loại quay về nguồn suối ban sơ.
Chuyện xưa Chàng Trai trong tuổi thanh xuân
Buông bỏ sau lưng hạnh phúc phi thời.
Lòng nhẹ như bông, vó ngựa sãi lối
Nhất hướng truy nguyên lối thoát cho đời.

Hãy về đây với tôi,cùng tôi ca hát
Khúc ca tuyệt vời Lạc Trú Hiện Thời.
Bước chân của anh bên bước chân tôi
Và bước chân em bên bước chân chị
In trên đất mềm - Tịnh Độ đây rồi

Tâm Mạch

Thần Chú

Cách đây hai năm một thiền sinh trong giờ sinh hoạt pháp đàm của từng nhóm phát biểu:” Tôi nghĩ Phật pháp là một triết lý cao siêu chứ đâu có phải là cứ thở ra hít vào mà hiểu được..” Trong một lần khác một thiền sinh Tây phương cũng nói:” Tôi dự và xem sách, DVD, lúc nào Thầy cũng nói vể hơi thở, chẳng có gì mới lạ..” (Everywhere, book, DVD… he says samething, Mindfull Breathing. I see nothing new). Tôi mĩm cười và định trả lời: “Tại mình thực tập chưa đúng mức cho nên chưa thấy mới lạ.”

Năm nay tôi được may mắn trở lại Lộc Uyển trong khóa tu này. Buổi pháp thoại ngày đầu tiên cũng một đề tài như những năm trước: Thiền Thở và Thiền Đi. Tôi nhìn quanh thiền đường một vòng xem thử có khuôn mặt nào tỏ phản ứng “đề tài lặp lại” không? Thiền đường thật lặng im. Tôi nghe báo cáo rằng trên sáu trăm người tham dự khóa này. Tôi được hưởng lây cái năng lượng chánh niệm trong thiền đường. Tôi nghĩ phần lớn những người có mặt hôm nay ít nhất họ đã một lần tham dự khóa tu như thế này, cho nên họ biết giữ im lặng tuyệt đối.
Cái mới lạ đến với tôi cách đây hai mươi năm. Trong một khóa tu đầu tiên tôi dự tại Camp de Sommet gần Montreal, Canada. Một bữa sáng bước chân vào phòng ăn, tôi thấy trước cửa có treo một tấm bìa viết” Thở đi con”. Breathe my dear”. Tôi khựng lại một chút nhủ thầm lâu nay mình quên là mình đang thở. Trong khoá tu năm đó Thầy dạy nhiều về hơi thở chánh niệm, kỷ thuật thở có ý thức. Thở khi đi, khi ngồi khi nằm khi ăn… Vì chưa quen nên cảm thấy mệt. Tuy mệt nhưng cái cảm giác lạ đầu tiên vẫn còn mãi trong tôi trong suốt mấy ngày tu tập đó. Rồi tiếp theo những khóa tu tôi có dịp tham dự, Thầy luôn nhắc đến chánh niệm và phương pháp hay nhất để duy trì năng lượng chánh niệm là hơi thở.

Từ đó đến nay con đường thiền tập của tôi là nương theo hơi thở. Cái lạ là mình càng cố gắng nương theo nó thì hình như nó hành mình. Làm như nó là ông chủ của mình, nhiều lúc không theo nó bị nó “trừng phạt”. Sau buổi ngồi thiền với nhiều tạp niệm, trong ngày nói năng nhiều khi không ái ngử với người thân, suy nghĩ miên man từ chuyện này đến chuyện khác không đầu không đuôi… Những lúc như thế đó tôi chợt sực nhớ là mình không về với hơi thở chánh niệm. Rồi bực tức, rồi tự trách mình đã mấy chục năm theo Thầy mà vẫn chứng nào tật nấy. Đó là những lúc bị nó trừng phạt. Cho nên với tôi “Breathe my dear” là câu thần chú. Thở đi con, lúc đầu xem như là lời của Thầy mình nhắc nhở mình giữ lấy hơi thở chánh niệm, dần dần tôi thấy ra là chính tôi nhắc tôi và có nhiều lần tôi lại thấy không phải “thở di con” mà là “thở thở”; không còn người nhắc nhở và người được nhắc nhở; hai ta đã là một. Những lúc như thế tôi thấy tôi rất rõ, thân tâm tôi chỉ toàn là hơi thở đều hòa, nhẹ nhàn, sâu lắng. Tôi muốn duy trì cảm giác này thật lâu thì tôi bị phản hồi ngay, càng muốn kéo dài tự nhiên tôi cảm nhận được cái tôi và hơi thở của tôi. Thất vọng. Vừa chớm thất vọng thì câu thần chú đến ngay “thở đi con”. Tôi mĩm cười trong bóng tối của phòng thiền (mà tôi gọi là phòng thở) và cái trình tự Thầy nhắc tôi thở, tôi tự nhắc tôi thở, và toàn thân tâm tôi là hơi thở trở lại. Tôi không thèm mong cầu kéo dài sự nhẹ nhàn của cảm giác mình vậy mà nó kéo dài hơn. Có lúc tôi mở to đôi mắt vẫn cảm thấy mình nhẹ thênh thang. Nhiều khi tôi thấy một sự tiếp nối miên mật của hơi thở, tôi không tìm ra cái bắt đầu của hơi thở cũng như cái cuối cùng của nó; bắt đầu của hơi thở vào chính là cái cuối cùng của hơi thở ra trước đó. Và cái cuối cùng của hơi thở ra chính là cái bắt đầu của hơi thở kế tiếp. Và quán sâu hơn nữa hơi thở vào và hơi thở ra chỉ là một, và trong cái một đó là một chuỗi của bắt đầu và cuối cùng. Trong cái bắt đầu đã có cái cuối cùng, trong cái cuối cùng đã có bóng dáng của bắt đầu. Sự quán sát đó đưa tôi về với chính tôi, tôi là hơi thở, tôi tan loãng trong hơi thở, hiện tại tôi đang thở…không có một chút cố gắng, tôi nhẹ nhàn.

lieng-soi-to-sen-troi-manh-ho-905x1200

Hôm nay cùng nhau trở lại con Đường Xưa có Mây Trắng, dạo lại vườn hoa xưa chắc chắn tìm thêm được những loài kỳ hoa dị thảo khác đang ẩn tàng trong muôn rừng xanh tốt.

Trước hết là có cơ hội “nghe” được lời nói của Đức Thế Tôn còn nguyên chất qua các bài thuyết pháp. Đây là điều quý giá nhất cho một người học đạo Bụt. Suốt 80 chương của Đường Xưa Mây Trắng Thầy Thích Nhất Hạnh đã cho biết: “Về giáo lý và tư tưởng, những kinh điển được trích dẫn trong sách này hầu hết đều là những kinh điển thuộc văn hệ Nikaya (tạng Pali) và văn hệ A Hàm (tạng Hán). Tác giả đã có chủ ý không xử dụng nhiều các kinh Đại Thừa, với mục đích chứng minh rằng những tư tưởng lớn của kinh Đại Thừa đều đã có mặt đầy đủ trong các kinh Nikaya và A Hàm, và chỉ cần đọc các kinh này có thể nhận ra được các tư tưởng lớn kia trong ấy. Kinh điển nào cũng là kinh điển của đạo Bụt, dù là kinh Bắc tông hay Nam tông….” (trích Đường Xưa Mây Trắng (ĐXMT). Lời tác giả tập 3).
Chủ yếu là tác giả dùng kinh điển thuộc hệ Nam tông mà đại diện là hệ Nikaya (tiếng Pali) và hệ A Hàm (tạng Hán), vì hai hệ này gần gũi với thời Bụt còn tại thế, được ghi chép lại qua các cuộc kiết tập kinh điển, mà lần kiết tập sớm nhất là chỉ hai tháng sau ngày Bụt nhập diệt, được hai thầy Ananda (trùng tuyên về kinh) và Thầy Upali (trùng tuyên về luật) trong hội nghị kiết tập gồm 500 vị xuất gia do Thầy Ca Diếp triệu tập (Ngủ Bách Kiết Tập). Trong lần kiết tập này thầy Ca Diếp hỏi hai thầy kia những câu hỏi rất tỉ mỉ như Bụt giảng kinh này ở đâu, bao nhiêu người tham dự, hoàn cảnh nào Bụt giảng kinh này, do Người hỏi hay do Người tự thuyết. Những tỉ mỉ này cho chúng ta một thích thú khi đọc vì đáng tin sự chính xác của những lời Bụt dạy. Thời Bụt chưa có kinh điển chỉ những lời Ngài nói với thính chúng hoặc cá nhân như các bậc vua chúa, học giả Bà La Môn …

Trong suốt 80 chương tác giả đã trích không biết bao nhiêu là kinh trong ba tạng kinh điển Nikaya, A Hàm (của Nam tông) và Đại tạng tân tu (của Bắc tông), và có những kinh có mặt trong cả ba tạng, có những kinh chỉ là một vài câu nói ngắn ngủi của Bụt. Điều này chứng tỏ tác giả đã nghiêm túc và bỏ rất nhiều thì giờ nghiên cứu kinh điển. Sự có mặt của một kinh có trong ba tạng Nikaya, A Hàm, và Đại Tạng Tân Tu chứng tỏ sự chính xác đáng tin kinh của Bụt trực tiếp nói ra. Chắc chắn một điều là không phải kinh nào cũng do Bụt thuyết nhưng sự nghiên cứu trích dẫn tỉ mỉ công phu làm người đọc cảm hứng, tin tưởng rất nhiều về độ chính xác có xãy ra trong lịch sử. Lấy một ví dụ Kinh Nghệ Thuật Chăn Trâu  (kinh Phóng Ngưu) tác giả đã tham cứu và trích từ Culagopalaka (M. 34 Majjihima Nikaya, Trung A Hàm hệ Nikaya), Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh (Đại Tạng Tân Tu 123 (TT.123), Mục Ngưu Kinh (Tăng Nhất A Hàm, AH. 43,6), Phóng Ngưu Kinh (Tăng Nhất A Hàm, AH. 49,1). Chỉ một Kinh Chăn Trâu thôi mà tác giả cho ta thấy đã xuất hiện trong ba tạng và đã giới thiệu cho người đọc đầy đủ.

Đọc Đường Xưa Mây Trắng như đọc một cuốn sách viết về tiểu sử Đức Bụt Thích Ca trong thể văn tường thuật nhưng thật sự tác giả thiền sư Nhất Hạnh đã dày công nghiên cứu kinh điển qua nhiều hệ phái như Nam truyền có các bộ A Hàm; mà trong A Hàm của Nam tông cũng chia ra A Hàm tạng Hán dịch từ tiếng Sankrit (chữ Phạn) ra chữ Hán và A Hàm hệ Nikya tiếng Pali. Và Bắc truyền những kinh được thiền sư dùng nhiều nhất trong tác phẩm lấy ra từ Đại Tạng Tân Tu. Đọc xong Đường Xưa Mây Trắng một lượt độc giả cứ ngỡ rằng tác giả đã tiểu thuyết hoá nhân vật Bụt Thích Ca, đâu có dè rằng trong suốt 80 chương mỗi chương có một vài câu chuyện của cuộc đời của Bụt, mỗi câu chuyện đã được tác giả rút ra từ một kinh, và mỗi một kinh được dẫn từ nhiều hệ phái khác nhau nếu kinh đó có mặt trong nhiều hệ phái như đã dẫn ở phần trên. Nói tóm tắt Đường Xưa Mây Trắng là cuốn sách toàn là kinh điển của ba hệ thống A Hàm Hán tạng, A Hàm Nikya (pali) của Nam truyền và Đại Tạng Tân Tu của Bắc truyền. Đọc Đường Xưa Mây Trắng độc giả thừa hưởng được một gia tài lớn lao về kinh điển thuộc tất cả các hệ thống chính của Đạo Bụt. Tâm lý người đọc cảm thấy thoải mái khi đọc cuốn tiểu thuyết hơn là đọc cuốn kinh, đây chính là nghệ thuật sáng tác cao tuyệt của tác giả.

Trở lại Đường Xưa Mây Trắng độc giả cảm thấy như trước mắt mình đầy đủ những hoàn cảnh sinh hoạt của xã hội Ấn Độ cổ xưa, đời sống của người dân, những giai cấp trong xã hội, những khó khăn của Bụt khi ứng xử với từng hạn người từ các học giả nhà tu hành Bà La Môn, đến giới thượng lưu, vua chúa cả giới bần cùng nghèo khó. Tất cả đều thể hiện rõ ràng trong Đường Xưa Mây Trắng. Những nét thi ca trong kinh điển tác giả cũng giới thiệu đầy đủ trong tác phẩm; đọc một đoạn kinh giống như đọc một bài thơ nhẹ nhàng siêu thoát. Có một kinh trong Tương Ưng Bộ nói về con nai. Một thuở nọ có nhiều vị khất sĩ kết hạ tại một khu rừng thuộc miền quê Kosala. Sau ba tháng mãn mùa kết hạ họ lại ra đi tản mác các nơi để hoằng hoá. Có một vị thiên giả trú ở rừng đó cảm thấy trống vắng than thở rằng:

Hôm nay trong lòng ta
Trống vắng không niềm vui
Những chổ ngồi hôm qua
giờ đây không ai ngồi
Các bậc đa văn ấy
Thuyết pháp thật là giỏi
Đệ tử Đức Thế Tôn
Hiện đi đâu hết rồi?

Vị thiên giả ngồi khóc, một vị thiên giả khác sau khi nghe bài kệ của vị thiên giả kia, dùng một bài kệ khác để trả lời:

Họ đi đâu hả?
Họ đi Ma Kiệt Đà
Họ đi Câu Tát La
Còn những khất sĩ khác
Thì đi Bạt Xà
Như nai thoát bẫy sập
Chạy nhảy khắp bốn phương
Đời sống người xuất gia
Là thảnh thơi như thế.
(Tương Ưng Bộ kinh)
Càng đọc càng thấy lòng thích thú.

Rồi một ngày nọ Bụt đã tám mươi trên con đường đi về phương Bắc, cảnh vắng trời giăng mây trắng. Gần ba ngàn năm sau con đường còn đó, chứng tích còn đó, Người Xưa đâu? Người Xưa vẫn còn đó. Hãy cùng nhau Đi trở lại con đường xưa có mây trắng giăng giăng.

Chân Tính Hải (Viết tặng Tăng Thân Bồ Đề)

ĐI TRỞ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA CÓ MÂY TRẮNG

Thầy trò đã cùng nhau đi trên con “Đường Xưa Mây Trắng” để gặp Bụt bằng hình ảnh con người đích thực, chiêm ngưỡng những nơi Ngài đặt chân trên con đường qua các vương quốc dọc theo hai bên bờ sông Hằng và để nghe lại tiếng Ngài rao giảng. Thầy đã giới thiệu cho học trò một Đức Bụt hoàn toàn là con người sống gần gũi với con người, không mang bất cứ một màu sắc tôn giáo hay nhiều quyền năng huyền bí. Và hầu như học trò của Thầy dừng lại chổ đó; có người đã mạnh dạng tuyên bố “ Mục đích Đường Xưa Mây Trắng Thầy Nhất Hạnh muốn lột xác hình ảnh Đức Phật nặng hình thức tôn giáo để nhìn thấy con người của Ngài, con người như tất cả chúng ta ngoại trừ đã được giác ngộ”. Nếu chỉ đọc một lần như đọc một cuốn tiểu thuyết, đọc xong xếp lại gác lên tủ sách, thì sẽ có một kết luận không trọn vẹn như thế.

uong tra di

CƠ DUYÊN MAY MẮN HIẾM HOI *

Không có thức không có tất cả. Bụt nói tất cả nằm trong mười tám giới, ngoài mười tám giới (6 căn 6 trần 6 thức) không còn gì cả, Ngoài mười tám giới con người không thành lập được. Chỉ có sáu căn con người chỉ là một mãnh xương khô; trong mãnh xương khô mình không vắt được một giọt nước nào cả. "Đừng mong tìm giọt nước trong mãnh xương khô" (Tổ Lâm Tế). Vậy thức quan trọng dường nào. Môn học của thức là Duy Thức ( nghĩa là chỉ có thức) nhưng thức không biểu hiện được ra ngoài cũng chỉ là không, vô thức, cho nên thức cần biểu hiện, Duy Biểu. Vậy mình có hai chặn đường để đi qua: 1/ chỉ có Thức. 2/ Phải để cho Thức biểu hiện, Duy Biểu.

Từ lâu tôi cũng hay tâm sự với một vài bạn đồng tu Duy Biểu quan trọng. Duy Biểu làm sống dậy một mãnh xương khô, là cái thân xác mình. Cái nghệ thuật cao của Duy Biểu là cùng một lúc mình đi trên hai chặn đường Duy Thức và Duy Thức Biểu Hiện (Duy Biểu). Nghệ thuật này của Ngài Thế Thân thế kỷ thứ năm. Trong suốt mười lăm thế kỷ các luận chỉ chú trọng phần Thức (lý thuyết, nói suông) mà quên phần Biểu hiện của Thức (thực hành). Đến thế kỷ hai mươi Thầy Nhất Hạnh mới hâm nóng lại, làm cho Thức Biểu Hiện lại để áp dụng trong đời sống hằng ngày.
Áp dụng bằng cách nào? đây là khả năng của từng người học trò, là chúng mình. Chìa khoá đã trao nhưng có biết mở không là phần việc của người xử dụng nó.

Trong mười tám giới sáu căn sáu trần là sắc giới, sáu thức là vô sắc giới. Hai thế giới hai miền khác nhau, đó là điều đầu tiên đặt câu hỏi. Vậy con người mình hiểu được tâm thức của mình đến mức nào? và có hiểu được rốt ráo không?. Tôi cũng thường tâm sự với các bạn đồng tu gần cũng như xa rằng thỉnh thoảng mình nên tự đặt những câu hỏi như thế để tìm cách giải nghi. Khi Thức thuộc vô sắc giới mà đem ra trình bày thì phải tìm cách đưa nó lên vùng sắc giới, có nghĩa là phải nhân cách hoá (Virtual personalization) Thức; cho nó một hình dáng một phân biệt một nơi khu trú. Chẳng hạn như hạt giống của thức, hạt giống của giận hờn, hạt giống của thương yêu, ghen ghét v.v..chúng hình gì, màu sắc ra sao, chúng ở đâu? chiếm khoảng không gian là tàng thức, không gian đó nằm sâu trong tàng. Tất cả phải được nhân cách hoá, tất cả phải được đưa nó ra để con người sắc giới mới hiểu được. Vì sự mượn tạm như vậy mà làm cho Thức biểu hiện ra trong một giới hạn gò bó hay rộng lớn tuỳ theo từng người tiếp nhận.
Trong Bài Duy Biểu thứ 2 Sư Ông dạy về sự kết nối giữa Ý, Mạc na và Tàng thức. Có nghĩa là ba loại thức đó là ba lãnh vực khác nhau, nhiệm vụ khác nhau, hành xử khác nhau. Ý tiếp nhận khi sáu căn tiếp xúc sáu trần. Ý vừa tiếp nhận thì anh chàng Mạc na nắm bắt, nhận công của mình, nghĩa là cái ngã xuất hiện. Anh Mạc na nhã ra cho xếp hạt giống vào kho, Tàng thức. Rất là dễ hiểu, và chính cái dễ hiểu này mới đánh lừa mình, đánh lừa người học Duy Biểu. Bởi vì khi mình đặt lại câu hỏi Ý thức, Mạc na thức và Tàng thức ở đâu trong sắc thân mình? Trong bài giảng cho biết Mạc na nằm trong Tàng thức, Ý nằm trên vùng Ý. Có phải ba thức đó riêng rẽ hay chỉ là một? và chúng có vị trí khi chúng là vô sắc giới? Và tôi có câu trả lời cho tôi: Khi anh ở trong thế giới sắc (sắc giới) mà muốn tìm hiểu những gì trong thế giới vô hình (vô sắc giới) thì anh phải chịu khó đứng vào với thế giới vô sắc thì dễ tiếp nhận hơn. Làm sao cái thân xác sáu bảy chục ký lô của tôi đi vào thế giới vô hình hoà mình với thế giới vô sắc? Anh chẳng cần đi đâu hết vì chính anh cũng không có cái ngã riêng biệt.

Ông Thầy (là Sư Ông) muốn cho mình hiểu sự vận hành của tâm thức đã tìm cách đưa tất cả trong thế giới vô hình lên trình trên mặt bằng của thế giới hữu hình (sắc giới) thì người học trò phải tìm cách biến mình vào thế giới vô hình (vô sắc giới) để nhận lãnh lời giảng dạy thì mới hiểu nhiều (chứ chưa rốt ráo) những gì Thầy muốn dạy. Như vậy mới làm cho Thức biểu hiện được trong thế giới sắc, nghĩa là mới thực tập được.

Hôm trước tôi có gởi một đoạn Dẫn Nhập của Sư Ông về Duy Biểu Học trong đó Sư Ông có đề cập tới Nhận Thức Luận (Epistemology). Nhận Thức Luận đặt vấn đề là ta có thể đạt tới sự hiểu biết thực tại hay không? Vấn đề của nhận thức luận là trí óc con người có thể đạt tới chân lý tuyệt đối của thực tại hay không? Có chủ thuyết nói là không. Bất Khả Tri Luận. Trong Duy Biểu Học cũng có đề cập đến vấn đề này. Khi một vật biểu hiện ra trước mắt mình tuỳ theo trình độ tu tập của mỗi người nó sẽ biểu hiện trong ba hình thức: Tánh cảnh, là nhìn thấy thực tại rốt ráo của vật. Chỉ có những bậc giác ngộ như Bồ Tát, Bụt. Đới chất cảnhngười có tu học trình độ chánh niệm cao nhìn thấy vạn vật đều do duyên sinh, không có cái gì tự sinh. Và Độc Ảnh cảnh là cảnh giới trong mộng mỵ hay trong tàng thức, những kỷ niệm. Lâu nay mình cứ chủ quan là mình đã nhìn thấy cái hoa theo tánh cảnh của nó, nhưng thực tế mình chỉ mới nhìn nó theo cái sở thích của mình nhiều hơn. Mới nhìn thấy cái hoa thì anh chàng Mạc na xuất hiẹn ngay bám cái hoa thành sự khen chê đẹp xấu làm cho cái thấy của mình bị méo mó bởi phân biệt yêu ghét.

Như vậy sự nghi ngờ của Nhận Thức Luận được giãi quyết trong Duy Biểu, khi người tu học đạt đến vô ngã thì sẽ nhìn được vạn hữu trong thế giới Tánh Cảnh. Đạo Bụt đã giãi trừ được mối nghi của trường phái Bất Khả Tri Luận. Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu nghĩa rốt ráo là Năm Mươi Bài Tụng rèn luyện Chánh Niệm trong ba lãnh vực hành động của Thân, Khẩu, Ý. Ngoài ba lãnh vực đó không còn lãnh vực nào.
Viết tặng Tăng Thân Bồ Đề
Chân Tính Hải
 

Trước hết xin được nói qua về Ông Nguyễn Hiến Lê, một học giả, nhà văn, nhà nghiên cứu Văn học, dịch thuật và nỗi trội nhất là những tác phẩm về sách học làm người mà giới trẻ miền Nam trước 1975 xem Ông như một nhà giáo dục về trí và đức dục. Những tác phẩm của Ông trong lãnh vực này rất nhiều và đã giúp cho giới sinh viên học sinh và cả bình dân khâm phục học hỏi và thành công thành nhân, tôn Ông là bậc thầy tuy Ông không phải là nhà giáo chuyên nghiệp. Ông có thời gian dạy đại học Văn Khoa Sài Gòn với tư cách giáo sư thỉnh giảng. Nghề chính của Ông là Công Chánh, công việc chuyên môn của Ông là đo đạc mực nước sông Cữu Long để xây dựng hệ thống dẫn thuỷ nhập điền. Vì vậy nguyên một vùng đồng bằng Sông Cữu Long đối với Ông lại à một quê hương thân yêu. Ông đi kinh lý không sót một ngõ ngách hoang vu nào của Đồng Tháp Mười mà Ông đã để lại nhiều tác phẩm trong đó nỗi tiếng cuốn Bảy Ngày Ở Đồng Tháp Mười.  Những lãnh vực văn chương, triết, sử học của Ông rất rộng do Ông đam mê, tự nghiên cứu nhờ giỏi chữ Hán, Anh,  Pháp. Với cung cách làm việc nghiêm túc, trách nhiệm đã làm Ông nỗi tiếng là một học giả được mọi người mọi lứa tuổi thời trước và cả sau 1975 phải nghiêng mình kính phục tin tưởng. Về lãnh vực dịch thuật và chú giải các tác phẩm đồ sộ của nước ngoài như bộ sử ký Tư Mã Thiên, Sử ký Trung Hoa Cỗ, Khổng Tử, Lão Tử, Mặc Tử, Xuân Thu, Chiến Quốc Sách, Kinh Dịch v.v..của Trung Hoa. Bộ Chiến Tranh Và Hoà Bình của Leo Tolstoy của Nga. Và nhiều tác phẩm lớn khác của các triết gia Pháp và Hoa Kỳ. Có những tác phẩm dịch thuật Ông bỏ ra hàng mấy năm sưu tầm thêm tài liệu, sách báo trước khi bắt đầu dịch đã chiếm rất nhiều thì giờ bởi sự làm việc thận trọng và trách nhiệm.

Trước năm 1966 Ông có ý định dịch bộ Chiến Tranh Và Hoà Bình của Leo Tolstoi, trong tay đã có hai bộ tiếng Anh và tiếng Pháp nhưng chưa dám dịch ra tiếng Việt vì chưa tìm ra được nhà xuất bản nào chịu in. Ông đã giao dịch với các nhà sách lớn ở Sài Gòn (Ông không nói tên nhưng ai cũng biết thời đó chỉ có Xuân Thu, Khai Trí, Tự Lực) nhưng không có nhà xuất bản nào dám nhận vì bộ sách lớn quá về nội dung và tốn kém trong việc in ấn vì hai tập quá dày cả ngàn trang sợ không có nhiều độc giả. Ông đành cất giữ đề "chờ thời".

Và thời đã đến với Ông. Tháng 9/1966 tình cờ có một Đại đức trẻ đến tìm Ông và tự giới thiệu là Giám Đốc nhà xuất bản Lá Bối. Nhà sư muốn hỏi Ông để xuất bản bộ Chiến Tranh và Hoà Bình. Trong buổi sơ giao hôm đó nhà sư có cho Ông biết là đã có gặp Ông cách đây mười năm (nghĩa là khoảng năm 1956?) và có tặng Ông một ít sách trong đó có cuốn Duy Thức Luận của Thạc Đức.
Nguyễn Hiến Lê đã nhớ lại và cho biết sau khi đọc cuốn Duy Thức Luận của Thạc Đức Ông thấy hay quá sáng sủa quá và có viết thư lên Đà Lạt để tìm cách kết duyên văn tự với tác giả và muốn khuyến khích tác giả nên viết về lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Nhưng Ông chờ mãi không hiểu tại sao không thấy trả lời.

Và cũng chính ông Nguyễn Hiến Lê cho biết Đại Đức Giám Đốc nhà in Lá Bối là Thầy Từ Mẫn (Võ Thắng Tiết). Thạc Đức tác giả Duy Thức Luận chính là Thầy Thích Nhất Hạnh.

So về tuổi tác Ông Nguyễn Hiến Lê sinh 20 tháng 11 (âm lịch) nhằm ngày 8 tháng 1 năm 1912. Thầy Nhất Hạnh 11 tháng 10 năm 1926. Ông lớn hơn Thầy đến 14 tuổi. Năm 1956 Ông đọc được cuốn Duy Thức Luận của Thạc Đức lúc đó Sư Ông mới đúng 30 tuổi, quá trẻ quá giỏi đến nỗi một học giả không tiếc lời khen và muốn "kết duyên văn tự" (chữ của Nguyễn Hiến Lê dùng).

Nhân Ngày Tiếp Nối của Sư Ông tôi muốn chia sẻ cùng tăng thân câu chuyện kết duyên văn tự giữa hai nhà trí thức tầm cở quốc gia và thế giới và cũng rất hứng thú rằng từ hồi nào đến giờ mình chưa được chiêm ngưỡng cái tên Thạc Đức bao giờ. Ngay cả trong thư tịch của Lá Bối tôi không hề tìm ra Duy Thức Luận của Thạc Đức. Đó là chưa kể mới đây vở hài kịch  Cậu Đồng của Sư Ông phóng tác theo vở hài kịch cổ của Pháp mang tên Le Tartuffe của Molière từ năm 1958. Tác phẩm dịch này lại để khuyết danh cho nên các Nghệ Sĩ ƯuTú Quốc Gia (NSUTQG) của Việt Nam trong suốt 23 năm trình diễn thành công mà vẫn không tìm ra tác giả. Duyên may năm nay họ tìm ra được một bản đánh máy đã nhàu nát Cậu Đồng có tên người phóng tác là Thích Nhất Hạnh. Họ mừng quá và liên lạc được các vị đệ tử lớn của Sư Ông để xin tác quyền. Những câu chuyện văn chương như thế này cho chúng ta thấy được sự chứng đắc vô ngã và vô ngã sở của Sư Ông. Quý thay và hạnh phúc thay cho những học trò của Sư Ông.
Viết và kể để kính cẩn dâng lên Sư Ông như một món quà Sinh Nhật nhân ngày Tiếp Nối thứ 94 của THẦY.

11 Oct 2020
Chân Tính Hải
 

Thac Duc Duy Thuc Luan
Nguyen Hien Le

THẠC ĐỨC - DUY THỨC LUẬN

Trong quyển sách Đời Viết Văn Của Tôi học giả Nguyễn Hiến Lê có kể một kỷ niệm về duyên văn tự của mình với Thạc Đức qua táC phẩm Duy Thức Luận.

Tăng Thân Bồ Đề